TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HÀ TÂY

1. Sự cần thiết  phải đánh giá chương trình đào tạo.

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020, đã được Chính phủ phê duyệt đã chỉ ra một số bất cập và yếu kém của lĩnh vực này. Một trong số những bất cập và yếu kém phải kể đến là: “Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới. Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết… nhà trường chưa gắn chặt với đời sống kinh tế, xã hội; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.”

Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây, được phép đào tạo 20 chuyên ngành thuộc các nhóm ngành: Kinh doanh và quản lý; Công nghệ kỹ thuật; Sản xuất và chế biến; Nông, lâm nghiệp và thủy sản; Môi trường và bảo vệ môi trường,… Chương trình đào tạo các chuyên ngành nói trên rất “nhạy cảm” khi có những thay đổi trong quy định của Nhà nước, những tiến bộ mới trong lĩnh vực khoa học thuộc ngành, chuyên ngành,…. Chính vì thế, Chương trình đào tạo nói chung, nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy các học phần nói riêng cần phải định kỳ được đánh giá, cải tiến. Đây là một nội dung hết sức quan trọng trong công tác kiểm định chất lượng đào tạo.

2. Các bước đánh giá chương trình đào tạo

- Bước 1: Lập kế hoạch hoạch cập nhật, đánh giá chương trình đào tạo;

- Bước 2: Thu thập thông tin, minh chứng liên quan đến sự cần thiết phải cập nhật, đánh giá chương trình đào tạo;

- Bước 3: Đánh giá và xây dựng báo cáo đánh giá về tính hiệu quả của chương trình đào tạo đang thực hiện;

- Bước 4: Dự thảo những nội dung cần sửa đổi, cập nhật chương trình đào tạo và trình Hội đồng khoa học và đào tạo xem xét thông qua;

- Bước 5: Hội đồng Khoa học và đào tạo xem xét, thông qua nội dung sửa đổi, cập nhật chương trình đào tạo và trình Hiệu trưởng ra quyết định ban hành chương trình đào tạo sửa đổi, bổ sung;

3. Hồ sơ cập nhật, đánh giá, cải tiến chương trình đào tạo.

Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT ngày 16/4/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục  &Đào tạo đã chỉ ra quy trình cập nhật và tổ chức đánh giá chương trình đào tạo. Theo đó, hồ sơ cần lưu trữ làm minh chứng cho công tác này gồm có :

1 - Kế hoạch cập nhật, đánh giá chương trình đào tạo (CTĐT);

2 - Phiếu điều tra/ phỏng vấn về sự cần thiết phải cập nhật chương trình đào tạo;

3 - Báo cáo tổng hợp kết quả xử lý phiếu điều tra/ phỏng vấn ở ý 2;

4 - Phiếu điều tra/ phỏng vấn đánh giá về tính hiệu quả của chương trình đào tạo đang thực hiện ;

5 - Báo cáo tổng hợp kết quả xử lý phiếu điều tra/ phỏng vấn đánh giá ở ý 4;

6 - Dự thảo nội dung cần sửa đổi, cập nhật;

7 - Quyết định  thành lập Hội đồng khoa học và đào tạo cấp trường;

8 - Biên bản họp của HĐKH&ĐT thông qua nội dung sửa đổi, cập nhật;

9 - Quyết định của Hiệu trưởng ban hành CTĐT  đã được bổ sung, điều chỉnh.

4. Những vấn đề đặt ra khi triển khai đánh giá CTĐT

Đánh giá chương trình đào tạo là một hoạt động quan trọng và thường xuyên cùng với kiểm định chất lượng nhà trường, các chương trình đào tạo phải được kiểm định để đảm bảo rằng nhà trường đã đào tạo nguồn nhân lực có các kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đạo đức đáp ứng các yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội. Muốn việc đánh giá, điều chỉnh chương trình đào tạo đạt được kết quả như mong đợi cần làm tốt một số nội dung sau:

Một là,  khi  đánh giá về tính hiệu quả của chương trình đào tạo đang thực hiện cần dựa vào các chỉ tiêu sau :

      1- Đánh giá của sinh viên (SV) tốt nghiệp về chất lượng  của chương trình đào tạo:

          + Tỷ lệ SV trả lời đã học được những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc  (%)

          + Tỷ lệ SV trả lời chỉ học được một phần kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc (%);

          + Tỷ lệ SV trả lời KHÔNG học được những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc (%);

       2 - Đánh giá của nhà tuyển dụng về SV tốt nghiệp có việc làm đúng ngành đào tạo:

          + Tỷ lệ SV đáp ứng yêu cầu của công việc, có thể sử dụng được ngay (%);

          + Tỷ lệ SV cơ bản đáp ứng yêu cầu của công việc, nhưng phải đào tạo thêm (%);

          + Tỷ lệ SV phải được đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung ít nhất 6 tháng (%)

Hai là, sử dụng DACUM để phát triển chương trình đào tạo. Theo đó,  người thiết kế chương trình phải  am hiểu, xác định nhiệm vụ và mô tả công việc của sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành đào tạo đó. Chẳng hạn, với sinh viên chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp, sau tốt nghiệp họ phải thực hiện được nhiệm vụ của kế toán viên, kế toán tổng hợp, thậm chí đảm nhiệm vai trò của kế toán trưởng.

Nhiệm vụ, công việc của các chức danh này được thể hiện trong bảng sau :

Nhiệm vụ

Công việc

Năng lực

Thu nhận thông tin

Lập chứng từ;Ghi sổ kế toán

Năng lực cụ thể

Xử lý thông tin

Phân tích đưa ra hướng giải quyết khi số liệu trên sổ kế toán chênh lệch với số liệu kiểm kê,....;

Lập chứng từ thủ tục kế toán.

Năng lực giải quyết vấn đề  (NL chung)

Kiểm tra thông tin

Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính chính xác của thông tin.

Năng lực tính toán; Năng lực  sáng tạo;

Cung cấp thông tin

Khóa sổ kế toán

Lập báo cáo kế toán

(Báo cáo tài chính và báo cáo quản trị)

Năng lực cụ thể

v..v...

......

.....

Ba là,  mỗi giảng viên (đặc biệt là các giảng viên dạy các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp) phải ý thức được sự cần thiết của việc điều chỉnh chương trình đào tạo. Trong học phần đó, đổi mới không chỉ là giảm số giờ lý thuyết, tăng thời lượng bài tập thực hành; Mà cần thiết phải thiết kế, kết cấu lại nội dung theo hướng tiếp cận năng lực người học nhằm đáp ứng được chuẩn đầu ra của học phần/môn học.

Bốn là, lãnh đạo các cấp Khoa và Bộ môn phải xem đây là một nhiệm vụ quan trọng và quyết tâm thực hiện nhằm nâng cao chất lượng sinh viên khi tốt nghiệp;

Bài : Bùi Quang Dũng

Tài liệu tham khảo

(1) Bộ giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

(2) Bộ giáo dục và Đào tạo, Công văn số 528/ KTKĐCLGD-KĐĐHngày 23 tháng 5 năm 2013 của Cục trưởng Cục Khảo thí – Bộ GD &ĐT;

(3) Thủ tướng Chính phủ, Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020. Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ;